Category Archives: Mục Tranh nghệ thuật

Nhà thơ – họa sĩ Lê Thị Kim: “Hạnh phúc tròn nhưng chưa đầy…” – Nguyễn Diễm

PN – “Nhìn anh
Em vẫn nhìn anh
Mênh mông là nhớ
Chảy quanh lệ buồn

Đành thôi
Giấu tận đáy hồn
Cho con khỏi xót
Vở còn cầm tay

Vì con
Đi hết đường này
Thôi đành phận số
Cát bay lá mòn

Mẹ như một cánh lá non
Khi cha bặt vắng mẹ còn hư vô
Vì con mẹ phải tự ru
Thôi thì ráng nốt kiếp hư vô này…”

Đó là một trong 19 bài thơ mà nhà thơ – họa sĩ Lê Thị Kim đã viết trong nỗi đau đã viết trong nỗi đau về sự ra đi vĩnh viễn của người chồng – anh Nguyễn Trọng Châu (nhà văn Đông Quân) vào năm 1998.

 

Nhà thơ, Họa sĩ Lê Thị Kim
Nhà thơ, Họa sĩ Lê Thị Kim

 

PV: Sinh thời, anh Trọng Châu là điểm tựa tinh thần vô cùng quan trọng đối với chị. Anh đột ngột mất đi trong lúc đứa con trai thứ hai của anh chị chỉ mới năm tuổi. Chị làm sao có thể vượt qua được nỗi đau lớn ấy để đứng dậy, vững vàng bước tiếp…?

Nhà thơ – họa sĩ Lê Thị Kim: Tôi vốn là người rất lơ tơ mơ trong những sinh hoạt đời thường. Mọi chuyện lớn nhỏ nhà tôi đều lo chu đáo. Tôi làm thơ, có khi vứt bản thảo lung tung, chính anh Châu là người tập hợp bản thảo để gửi đăng báo hay đưa đi in. Tôi vẽ tranh, anh sẽ lo làm khung, tổ chức triển lãm… Anh đột ngột ra đi khi con trai lớn của chúng tôi Trọng Minh đang học lớp 12 và con trai nhỏ Trọng Hiếu chỉ mới năm tuổi, lại có vấn đề về thể lực. Lúc ấy, tôi như từ đỉnh núi cao rơi xuống vực thẳm. Sau một thời gian đắm chìm trong cảm xúc đớn đau, tôi tự nhủ mình phải tỉnh lại, lấy lại tinh thần. Các con chỉ còn một mình tôi, tôi phải đứng vững để lo cho các con.

* Những khi nghĩ về anh Trọng Châu, chị nhớ nhất điều gì?

– Anh Châu rất yêu thương vợ con. Trọng Hiếu rất thích thổi nến, thế là mỗi năm anh tổ chức cho con trai đến 12 lần sinh nhật (mỗi tháng một lần) để thằng bé được thổi nến. Anh thường cùng con trai đóng vai các nhân vật trong những câu chuyện cổ tích. Hằng ngày, cứ buổi chiều anh đưa Trọng Hiếu đi chữa bệnh, sau đó chở con ra bến Bạch Đằng để xem tàu Mỹ Nhân Ngư. Đang giữ vị trí giám đốc của một công ty ở TP.HCM, anh sẵn sàng từ bỏ để đưa con lên Đà Lạt trị bệnh dài ngày…

* Bây giờ bên cạnh chị là hai cậu con trai đã trưởng thành và thêm một đứa cháu nội. Với ba người “đàn ông” đó, chị có cảm thấy đã đủ hạnh phúc hay vẫn trống vắng và cô đơn vì thiếu một bờ vai?

– Với ba người “đàn ông” đó, đã tròn một niềm hạnh phúc cho tôi – tất nhiên là chưa đầy. Giả dụ như có anh ấy – anh Trọng Châu thì ắt là cuộc sống sẽ đầy đủ hơn với tôi và với cả các con.

* Đã 16 năm trôi qua, lý do gì khiến chị không đi thêm bước nữa?

– Đó là chủ ý của tôi. Tôi muốn dành trọn vẹn tình cảm cho hai con, không muốn san sẻ cho bất cứ ai nữa.

* Các con chị có đồng tình với việc mẹ không đi thêm bước nữa?

– Lúc các con tôi còn nhỏ, chúng cảm thấy cuộc sống rất tốt khi mẹ cứ ở vậy một mình nuôi các con. Thậm chí có lần Trọng Hiếu tuy mới 11 tuổi nhưng đã giận dữ và tuyệt giao với cô bé bạn thân cùng lớp chỉ vì cô bé ấy đã nói: “Hiếu phải về nói mẹ Hiếu lấy chồng đi chứ, để mẹ còn có người nương tựa”… Khi trưởng thành, các con lại khác; hai đứa đều trách tôi: “Sao mẹ không chịu lấy chồng để có người lo cho mẹ…”.

* So với anh trai, dường như Trọng Hiếu được mẹ đặc biệt ưu ái hơn…?

– Tôi quan niệm: thương con phải thương cho đồng đều. Với hai đứa con trai, tôi dành cho hai kiểu thương yêu khác nhau. Em nhỏ, lại không ổn về thể lực thì được ưu ái hơn anh một chút. Con trai lớn vốn trầm tính, ít biểu lộ tình cảm. Con trai nhỏ lại thích biểu hiện tình cảm và muốn mình là “cục cưng nhất của mẹ”. Trọng Minh nhường em, bằng lòng với vị trí “cục cưng nhì”. Gần đây Trọng Hiếu mới chịu chuyển vị trí “cục cưng nhất” cho cháu nội của tôi. Tuy ban ngày Hiếu nói như vậy nhưng đêm về, nằm cạnh mẹ Hiếu lại hỏi: “Dù sao mẹ vẫn yêu con nhất, phải không mẹ?”.

 

Nhà thơ Lê Thị Kim cùng hai con trai và cháu nội
Nhà thơ Lê Thị Kim cùng hai con trai và cháu nội

 

* Thơ và họa có an ủi và khỏa lấp được nỗi cô đơn của chị?

– Không chỉ an ủi và ru dỗ mà có khi thơ còn là điểm tựa của tôi. Có những khoảnh khắc tôi thả mình trong khung tranh để quên đi những khó khăn bộn bề xung quanh và để vươn tới. Tôi đã từng viết: “Thơ ơi ở lại cùng em/ Xin làm lửa ấm những đêm buồn này/ … / Xin hồn thơ mở bao dung/ Cho em chất chứa những cung bậc buồn/ Thôi đành phận cát long đong/ Níu thơ xin một điểm dừng thơ ơi”.

* “Tình khép nở trong tay/ Sao thực hư như xiếc/ Hôm nay vầng trăng đầy/ Mai vầng trăng có khuyết/ Người tặng ta cỏ biếc/ Mai kia có úa vàng/ Đâu nơi nào bất diệt/ Cỏ xanh tràn ngàn năm…”. Tình yêu trong thơ Lê Thị Kim nồng nàn và da diết là vậy. Tình yêu trong đời thường của chị có giống như trong thơ? Người đàn ông trong thơ chị là những ai đó có thật hay chỉ là bóng hình hư ảo?

– Cảm xúc về tình yêu trong thơ có những trường đoạn và những thời khắc riêng của nó: thời thiếu nữ mơ mộng, thời sinh viên, thời yêu đương, thời làm vợ làm mẹ, thời cô đơn… Thơ đôi khi là trải nghiệm, đôi khi là hồi ức, đôi khi là kỷ niệm, đôi khi là khát khao… với nhiều cung bậc cảm xúc. Những hình ảnh đàn ông trong thơ đương nhiên là có thật và đôi khi chỉ là hình tượng thơ. Xin đừng hỏi quá sâu về những điều này, vì nhà thơ bao giờ cũng cần một “khoảng sân sau bí mật”.

* “Ta thả trên bờm con ngựa bạch/ Nửa đời hoa cỏ mắt môi hồng/ Ta giấu trong lòng con ô mã/ Nửa đời sương giá buốt vầng trăng”, “…Đôi khi trong cõi thật/ Ta nói cười ước mơ / Để giấu trong hư ảo/ Trái tim mình bơ vơ/ Để giấu trong hư ảo/ Nửa vầng trăng không đầy/ Để giấu trong hư ảo/ Mảnh tình gầy xót xa”… Những câu thơ đã phản ánh tâm thế của Lê Thị Kim. Bây giờ ở tuổi ngoài 60, chị có hài lòng với những gì mình đã có? Chị còn nuối tiếc điều gì?

– Những năm tháng qua, tôi đã sống hết mình. Nhìn chung, tôi tương đối hài lòng với cuộc sống. Tôi quan niệm: hạnh phúc hay không là do nơi mình. Có lẽ vì vậy nên tôi cảm thấy tương đối hạnh phúc. Kể ra cũng trùng hợp thú vị, từ thuở nhỏ tôi đã thích thuyết tương đối của Einstein. Tuy nhiên, vẫn có một số điều tôi chưa làm được như mong muốn. Có hai điều nuối tiếc lớn đối với tôi. Một là sự ra đi đột ngột của chồng tôi và những người thân trong đại gia đình. Hai là tuy tôi đã làm hết sức để cải thiện sự bất ổn về thể lực của con trai mình nhưng kết quả không được như mong muốn.

* Xin chia sẻ cùng chị và rất cám ơn chị về buổi trò chuyện chân tình này.

Nhà thơ, Họa sĩ Lê Thị Kim
Nhà thơ, Họa sĩ Lê Thị Kim

 

Sau đây là những tác phẩm của Nhà thơ, Họa sĩ Lê Thị Kim

 

C+óu ca quan hß+ì trong chiß+üu t¦¦ th+ón L+è THI KIM s¦ín dߦºu 40x40

 

Chiß+üu t+¡m L+è THß+è KIM  s¦ín dߦºu 100x100

 

Chiß+üu thu mang nß+ùi nhß+¢ cß+ºa ta vß+ü -æ+óu L+¬ Thß+ï Kim s¦ín dߦºu 100x100

 

Chß+ƒ che L+¬ Thß+ï Kim s¦ín dߦºu 80x80

 

Cߦ¬m ch¦¦ß+¢ng-Chß+ë mß+Öt m+¼nh em th+¦i L+¬ Thß+ï Kim s¦ín dߦºu 100x100

 

Đội kèn

 

Dߦío kh+¦c L+¬ Thß+ï Kim s¦ín dߦºu 100x100

 

Em- mß+Öt vߦºng nߦ»ng ߦÑm-2 L+è THI KIM s¦ín dߦºu 60x60

 

Em t+¦i 2 L+è THI KIM s¦ín dߦºu 80x80

 

Em t+¦i L+è THI KIM s¦ín dߦºu 40x40

 

Em x¦¦a 5  L+è THß+è KIM  s¦ín dߦºu 100x100

 

Em x¦¦a 6  L+è THß+è KIM  s¦ín dߦºu 80x80

 

Hoa 1 L+è THI KIM s¦ín dߦºu 60x60

 

Hai chi Em L+è THI KIM s¦ín dߦºu 120x120

 

hoai mong  L+è THß+è KIM  s¦ín dߦºu 80x80

 

KIß+ÇU 2_L+è THI KIM s¦ín dߦºu 100x100

 

L+á t+¦i  L+è THI KIM s¦ín dߦºu 80x80

 

TR-éNG   XU+éN, S¦ín dߦºu 100x100.L+è THI KIM

 

Biên tập: Vương Chi Lan

Chỉ cần có tình yêu thì mọi vật chung quanh mình đều có thể thăng hoa – Lâm Chiêu Đồng

Mình vừa hoàn thành xong 1 pho tượng Apsara! Trong thời đại mà mọi lĩnh vực đều muốn đi kèm theo chữ XANH, như phát triển xanh, du lịch xanh, ý tưởng xanh v v… Thì một tác phẩm nghệ thuật với chất liệu xanh là điều đã khiến mình nhiều trăn trở, Continue reading

Niềm đam mê – Tạ Quang Bạo

Nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo

Sinh ngày 25 – 5 – 1941
Quê xã Hà Lâm, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa,
Ông tốt nghiệp Trung cấp khoá I (1959- 1963) và Đại học Mĩ thuật Công nghiệp Hà Nội khóa II (1967 – 1971)
Hội viên ngành điêu khắc Hội Mĩ thuật Việt Nam từ năm 1977. Continue reading

Câu chuyện thiền

10 bức tranh chăn trâu

    Chúng tôi xin giới thiệu về “Mười bức tranh chăn trâu” hay “Thập mục ngưu đồ” để chúng ta cùng nhau tư duy, quán chiếu Giáo lý Phật Đà.

    Bộ tranh được phát hiện sớm nhất tương truyền là của thiền sư Quách Am (Kakuan hay Kuoan Shihyuan, 1100-1200, cũng thường được gọi là Khuếch Am Sư Viễn) người Trung Quốc, sinh vào thời nhà Tống thế kỷ XII. Thiền sư dựa vào các bản luận cũ của tiền nhân rồi họa 10 bức tranh chăn trâu, mượn hình ảnh tượng trưng của trâu trong Lão giáo, rồi viết bài tụng và lời bàn bằng văn xuôi. Bộ tranh của ngài thuần chất thiền, sâu sắc hơn các bộ tranh của các bậc tiền bối và từ đấy trở thành nguồn cảm hứng sâu xa cho các thế hệ sau này phỏng theo đó mà vẽ ra thêm nhiều bức họa khác nữa.

    Từ đó ngày càng có thêm nhiều bộ tranh mới khác hoặc màu, hoặc đen trắng, bắt đầu xuất hiện ở các chốn già lam, thiền viện, và những bộ tranh này cũng phản ảnh được nhiều khuynh hướng khác nhau trong sự tu tập, không thống nhất một cách khô khan, mà lại uyển chuyển sáng tạo, tùy duyên truyền pháp. Như vậy là không phải chỉ có một bộ, mà có nhiều bộ “mục ngưu đồ” khác nhau, tất cả đều đượm nhuần tinh thần Phật giáo Bắc Tông.

    Tuy có nhiều bộ tranh nhưng về hình thức thời bộ nào cũng như bộ nào, mỗi bộ đều có 10 bức, mỗi bức có một bài tụng bằng thơ tứ tuyệt và một bài chú giải bằng văn xuôi cho cả tranh và bài kệ. Còn về tinh thần thì tranh tuy có nhiều, nhưng có thể xếp thành hai loại: Đại thừa và Thiền tông.   Loại tranh theo khuynh hướng Đại thừa vẽ lại quá trình tu chứng, từ việc tự thắng bản năng mình, đến tự tri và cuối cùng là đạt đến tự tại. Loại tranh theo khuynh hướng Thiền tông khắc họa tiến trình thực nghiệm tâm linh với ba giai đoạn: sai tâm bắt tâm, tâm vô tâm và tâm bình thường. Trong mỗi loại, tranh vẽ sai khác hết nhau, nhưng bài tụng và bài chú riêng cho mỗi loại vẫn không thay đổi. Hình ảnh người mục đồng tượng trưng cho giới thể, cho thiền định, cho chính trí, nói chung là cho chánh pháp của đức Phật. Con trâu tượng trưng cho cái tâm của chúng sinh, cái tâm ấy là cái tâm vọng tưởng, tâm phân biệt, chất chứa đầy phiền não, mê lầm và dục vọng. Chúng sinh lấy giáo pháp chân chính của đức Phật để chữa trị các sự mê lầm và dục vọng này thì cũng tương tự như người mục đồng trị con trâu hoang dã đầy tật chứng vậy!

    Dưới đây là 10 bức tranh chăn trâu, trâu chuyển dần từ đen (trâu đen tức là tâm còn buông thả) sang trắng (tâm được thuần phục dần). Quý Đạo hữu có thể bấm vào đây để xem và tải về 10 bức tranh chăn trâu của Thiền sư Quách Am và của giáo sư thiền học Daisetz Teitaro Suzuki.

Tranh 1. Tìm trâu

Thật ra con trâu chẳng bao giờ thất lạc. Nó vẫn sờ sờ ra đó, đâu phải kiếm tìm? Chẳng qua chỉ vì ta rời xa thực tướng cuả mình nên ta không hề thấy nó. Trong sự mê muội của sắc tướng mà ta mất dấu vết của nó. Ở xa căn nhà, ta thấy nhiều ngỏ đan nhau, nhưng đâu là con đường chính. Lòng tham và sợ hãi, tốt và xấu ràng buộc lấy ta.

Tranh 2. Thấy dấu

Hiểu được lời dạy, ta thấy dấu chân của trâu. Rồi ta biết rằng, như nhiều dụng cụ được chế từ kim lọai, muôn vàn sắc tướng đều do ngã tạo ra. Làm sao ta thấy được thực và ảo nếu ta không phân biệt? Khi chưa vào được cửa, hẳn nhiên ta phải tìm cho ra con đường

Tranh 3. Được trâu

Nó sống trong rừng đã lâu, nhưng ta bắt được nó hôm nay! Sự đắm say cảnh sắc đã làm nó lạc đường. Vì ham muốn cỏ ngon hơn, nó lang thang phiêu bạc. Tâm của nó còn bướng bỉnh và không chịu thuần phục. Nếu muốn nó nghe lời, ta phải dùng roi.

Tranh 4. Chăn trâu

Trâu bị kiềm chế bấy giờ có lẽ đã đau đớn vì bị dây vàm kéo lỗ mũi, lại sợ lãnh thêm những đòn roi, nên bắt đầu dần dà chịu phép, chịu khuất phục. Trâu bị giơ roi dắt đi, nhưng đầu đã sạch trắng ra.  Tuy là trâu hết chạy tới chạy lui hung hăng hùng hổ, nhưng trẻ chăn trâu vẫn phải nắm chặt sợi dây vàm xỏ mũi mà kéo nó đi, chưa dám buông thả, tay chưa dám bỏ cây roi. Chú dắt trâu đi nhẹ nhàng, không còn phải dùng sức lực lôi kéo hay roi vọt đánh đập nữa.

Tranh 5. Thuần phục

Đến đây là đươc chút nhàn rỗi vì đã tu được nửa chặng đường rồi, ít còn phải dụng công nhiều nữa. Người luyện tâm lúc này đã hoàn toàn điều phục được tâm ý mình và sống trong tỉnh thức. Tâm ý đã thanh tịnh, người tu thật an lạc, thấy được sự mầu nhiệm của cuộc sống. Thấy ra tu là hướng nội, là chuyển chính nội tâm mình trở nên thanh tịnh tốt đẹp, không phải là chuyển cảnh vật bên ngoài theo ý mình.

Tranh 6. Cỡi trâu về nhà

Cởi trâu, ta thong thả quay về nhà. Tiếng tiêu của ta réo rắc chiều tà. Ngón tay láy nhịp, ta hòa điệu không ngừng. Ai nghe nhạc khúc du dương này xin tấu cùng ta.

Cuộc tranh đấu đã qua; được hay thua đều không khác. Ta hát bài ca của tiều phu và thổi điệu đồng giao. Cởi trâu, ta ngắm mây trôi bồng bềnh. Ta đi tới dù ai có gọi giật lại.

Tranh 7. Quên trâu còn người

Pháp bất nhị. Ta chỉ tạm mượn chuyện trâu. Nó cũng như sự tương quan giữa thỏ và bẫy, giữa cá và lưới, giữa vàng và cặn, hay trăng vừa ló khỏi mây. Một tia sáng xuyên suốt vô thỉ vô chung.

Ta điều phục tâm nhưng thật ra chẳng có chi để điều phục. Bởi tánh giác là của ta, theo ta suốt dọc đường sinh tử. Giờ ta có thể ung dung tự tại với tánh giác của ta, bỏ mặc roi thừng là thứ tạm bợ.

Tranh 8. Dứt cả hai

Vòng tròn tượng trưng cho “Viên Giác”. Trâu và người chăn, tâm và cảnh dứt hết là hiển hiện ánh chânnhư lung linh trong màu cỏ nội hoa ngàn.  Nhiễu sự đã qua. Tâm không còn chướng ngại. Ta không mong cầu cõi giác ngộ.  Ta cũng không trú vào nơi không giác ngộ. Vì ta không vướng mắc vào cả hai, mắt không hề nhìn thấy ta. Nếu hàng vạn chim cúng hoa trên đường ta đi, sự tán thán đó cũng chỉ là hư vô.

Tranh 9. Trở về nguồn cội

Ngay từ ban đầu, chân lý đã sáng tõ. Qua thiền định, ta quán đến sắc tướng hợp tan. Cội nguồn là tâm thể chân thật, nó vốn sẵn như vậy, không cần phí công để tìm, không cần phí sức để trở lại. Thấy nghe mà không phân biệt tốt xấu, hay dở, cũng giống như mù như điếc nên nói mù câm. Trong am là chỉ cho tâm thể thênh thang trùm khắp không có một vật gì ngoài nó. Chừng đó mới thấy tự tại, thấy nước mênh mông, thấy hoa tự nở hồng nở tía mà không bận tâm không vướng mắc, đó là phản bổn hoàn nguyên, gọi là vào cảnh giới Phật

Tranh 10. Thỏng tay vào chợ

Thiền Sư mặc áo bày ngực, chân không dày dép đi vào chợ để làm những việc rất tầm thường như người đời. Miệng cười hỉ hả, không cần gìn giữ giới hạnh mẫu mực của người tu, không thuyết giảng giáo lý cao sâu mầu nhiệm, chỉ làm con người rất bình thường để dạy cho những người bán cá, bán thịt ở ngoài chợ, ở quán rượu, là những con người không có chút đạo đức, khiến cho họ có chút đạo đức biết tu hành. Đó là trọng trách giáo hóa của người tu đã đến chỗ viên mãn. Chỗ này là chỗ thiết yếu, hành giả cần phải hiểu cho rõ, người tu sau khi vào cảnh giới Phật tức là đã triệt ngộ, rồi mới vào cảnh giới ma để lăn xả vào đời, làm lợi ích cho đời.