Home / Nói láo – Một sinh hoạt văn hóa Quảng Nam (Phần cuối) – Vũ Đức Sao Biển

Nói láo – Một sinh hoạt văn hóa Quảng Nam (Phần cuối) – Vũ Đức Sao Biển

Người Quảng Nam có năng khiếu hài hước. Một trong những biểu hiện của năng khiếu đó là nói láo. Trong nói láo, có sự gặp gỡ, giao thoa của người nói và người nghe, của chủ thể và khách thể. Người nói có nhu cầu thể hiện năng khiếu nói láo để làm vui cho người khác; người nghe muốn được nghe những chuyện nói láo cho vui. Mấy chục năm trước, phương tiện giải trí chưa có hoặc chưa nhiều thì nói láo và muốn nghe nói láo là một cách giải trí bình dân, hữu hiệu và phổ biến nhất. Vả chăng, nghe nói láo miễn phí, khỏi trả tiền. Nó thay thế được vai trò giải trí của các đoàn hát bội, cải lương, kịch nói, điện ảnh lưu động.
Đêm trăng sáng, người ta trải chiếc chiếu ngoài sân. Người lớn ngồi trong chiếu uống trà; trẻ con ngồi chầu rìa bên ngoài. Tất cả đều vểnh tai, há miệng chờ nghe nói láo. Một người nào đó ăn nói có duyên, nhớ được nhiều chuyện nói láo thiên láo địa, bèn kể ra. Thưởng thức “văn nghệ” bình dân như thế thật thú vị và thật văn hóa. Chính vì vậy, nói láo phát triển nhiều ở khu vực nông thôn hơn thành thị, có nhiều ở những nơi khó khăn hơn những nơi đầy đủ.

Nhạc Sĩ Vũ Đức Sao Biển

Nói láo Quảng Nam là một loại hình văn hóa trí tuệ. Một người nói láo; năm sáu người ngồi nghe. Câu chuyện nói láo được họ ghi nhớ rồi kể lại cho những người khác nghe. Cứ thế, nó trở thành một thứ văn chương dân gian truyền khẩu. Tính dị bản tất yếu phải có. Người ta có thể kể một chuyện nói láo được nghe từ một người khác và bảo đó là của mình. Không sao, ở đây không đặt ra vấn đề bản quyền, vấn đề sở hữu trí tuệ. Một chuyện nói láo ở Điện Bàn có thể được một người đem kể lại ở Tam Kỳ. Anh ta có thể thay thế nhân danh, địa danh cho phù hợp, miễn là việc kể lại không phương hại đến nội dung căn bản của câu chuyện.
Nói láo là một nghệ thuật. Đầu tiên, người nói láo phải đặt câu chuyện của mình vào một cơ sở thực tế nào đó. Trên nền tảng đó, người nói láo thêu dệt ngôn từ hợp lý, kết cấu tình huống cho chặt chẽ để đẩy câu chuyện đi xa sự thật. Trong khi nói láo, người ta phải thể hiện kịch tính, phải chọn lọc ngữ thanh, ngữ khí làm như là câu chuyện ấy có thật, nhấn nhá sao cho hấp dẫn để đưa người nghe vào mê hồn trận. Thế rồi câu chuyện kết thúc một cách đột ngột khiến cho người nghe bật cười. Người xưa có câu “Lộng giả thành chân”. Nghệ thuật nói láo đi ngược lại qui trình đó. Nó là tác động “Lộng chân thành giả”.
Nói láo cũng là một cách cãi trong thói hay cãi của người Quảng Nam. Nói láo nhiều khi được dùng như một phản ứng, một cách biểu thị thái độ không đồng tình trước một người, một sự việc. Nó là một biểu hiện của công phu cãi. Thiệt chiến mà. Người Quảng Nam dùng cách nói láo một cách khéo léo để cãi lại một người, một hành động mà họ không đồng tình. Câu chuyện sau đây của ông Chánh Thị (xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ ngày nay) là một thí dụ.
Ông Chánh Thị trên 70 tuổi, là một nhân vật “gân guốc” của xã Kỳ Kim (tên gọi trong kháng chiến chống Pháp của xã Tam Thăng). Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, một toán lính bảo an kéo về chiếm đóng Kỳ Kim. Họ vào nhà ông Chánh Thị xin ở nhờ. Ngày nào, viên thượng sĩ chỉ huy toán lính cũng xách súng đi bắn chim cu đất làm thịt nhậu. Anh ta vặt lông chim, lông chim bay đầy nhà ông Chánh Thị nên ông rất bực.
Một hôm, ông Chánh Thị thấy viên thượng sĩ xách xâu chim về, nói ngay:
– Mấy ông bắn chim cu chỉ là nổ súng ồn ào. Hồi tôi trẻ, đi thổi ống sì đồng, một ngày cũng được vài ba chục con chim.
Viên thượng sĩ ngạc nhiên:
– Úi chao! Bác thổi bằng đạn gì?
– Tôi thổi bằng hột é!
Làng Bàn Thạch (xã Duy Vinh, Duy Xuyên, Quảng Nam) có một ông già nói dóc rất giỏi. Tên ông là Trưởng Nhơn. Ông này là một trong những thần tượng của tôi, đã được tôi khắc họa chân dung trong truyện ngắn Ông Trưởng Nhơn. Năm tôi lên chín tuổi thì ông đã ngoài sáu mươi. Ông chuyên bưng một cái rổ, trong đó đựng các món đũa tre, ống thổi lửa, cặp nhắc (một đồ vật dùng kẹp nồi niêu nóng, đem ra khỏi bếp lửa) và mấy gùi lá xông đi bán dạo ở chợ Bàn Thạch.

Ngày nói láo

Ông Trưởng Nhơn hay nói vè. Mỗi khi đến chợ, ông đem một đôi đũa gõ vào cái ống tre lớn và nói bài vè Nói láo – một “đặc sản” được truyền tụng nhiều đời khắp đất Quảng Nam:
Ngồi buồn nói chuyện láo thiên,
Hồi hôm họ rủ tui đi khiêng ông trời.
Ra đồng thấy muỗi đớp dơi,
Bù hung đám giỗ lại mời ông voi.
Nhà tui có một bụi khoai,
Đào lên một củ nấu vài nồi dư.
Nhà tui có một bụi từ,
Đào lên một củ lăn hư con đường.
Xuống sông bắt một con lươn,
Cái thịt tui làm chả còn cái xương tui đẽo cày…
… Nhà tui có một cái ang,
Gặt lúa cả làng đổ lại còn lưng.
Nhà tui có một bụi gừng,
Đào lên một củ ước chừng đòn xeo.
Nhà tui có một con mèo,
Khi mô hết thịt, nó lên đèo bắt nai.
Nhà tui có con chó thậm tài,
Đánh hơi chồn ngận mười hai đêm ròng
Ra đồng bắt một con còng,
Thịt bán chín đồng rưỡi, bộ lòng tui xỏ xâu.
Ông già tui có một sợi râu,
Cắt ra làm thành bốn dây câu cá chình.
Thiên hạ nghe tôi nói láo thất kinh,
Ở tỉnh ni ai ai cũng nói láo chớ phải một mình tôi láo đâu.
Nếu đúng như câu kết của bài vè này thì phần lớn người Quảng Nam quả có năng khiếu… nói láo lỗi lạc. Có lẽ nhờ đắc thủ truyền thống ấy mà ông Trưởng Nhơn quảng cáo các mặt hàng của mình bằng ngôn ngữ nói láo rất ấn tượng.
– Mi thấy cái cặp nhắc ni có người chê là mảnh (mỏng quá). Mảnh răng được mà mảnh? Nấu một nồi mười cơm, cặp vô khiêng đi tới Huế còn được.
Ông Trưởng Nhơn nói tới Huế mặc dù ông chẳng biết Huế ở đâu. Suốt ngày, ông chỉ qua chợ Bàn Thạch bán rồi về lại nhà mình. Thành phố Hội An sát bên nách mà ông còn không biết, nói chi tới Huế?
Có người lại hỏi mua ống thổi lửa. Ông Trưởng Nhơn:
– Ống thổi lửa của tui khỏi cần thổi. Bà kê vô tới bếp là hắn đỏ liền hè.
Quảng cáo lá thuốc xông:
– Gùi lá xông ni hay lắm, còn tốt hơn thuốc bắc của ông Cửu Bảy Đình. Hôm tê, bà Hương Chư đau nằm liệt giường liệt chiếu, tay tưởng đâu đã bắt chim chim (rúm lại, ý nói sắp chết). Tui dộng cho bả ba gùi; chiều hôm nay bả đã xách rổ đi chợ, cãi một chặp rồi còn muốn đánh lộn với mấy bà bán cá nữa!
Có hôm, tôi thấy ông ngồi vót đúng ba sợi lạt tre, chuốt đi chuốt lại thật đẹp. Tôi hỏi:
– Ông ơi, răng ông vót có ba sợi?
– Nhà tau có con chó khôn lắm, chỉ ghét cái hay sủa dai. Hôm qua, tau có ông bạn tới chơi; hắn sủa miết, biểu nín không nín. Sẵn cái đòn tre, tau dộng lên đầu hắn một cái làm cái sọ hắn nứt ra làm hai. Tau vót ba sợi lạt để chiều ni về bó lại cái sọ cho hắn.
Hôm sau, tôi gặp ông hỏi thăm tình trạng sức khỏe con chó. Ông nói:
– Hắn ăn cơm với ngoắc đuôi lại được rồi. Nhưng do cái sọ chưa lành hẳn nên hắn sủa… nghe còn rè rè.
Tôi đã học được kỹ năng hài hước qua cách nói láo của ông Trưởng Nhơn. Lớn lên đến 30 tuổi, tôi đã có thể viết được trên báo Tuổi Trẻ; tới 36 tuổi, đã có thể viết trên báo Tuổi Trẻ Cười và báo Thanh Niên.

Mấy kiểu nói láo Quảng Nam
Những chuyện sau đây là do tôi được nghe kể và xin thuật lại để bạn đọc cùng giải trí với cách nói láo của người Quảng Nam.
Cột pháo “trị” ông ba mươi
Chuyện này của ông Bốn Cang, người xã Tam Đàn, Phú Ninh kể. Ông nói thời 1950, xã còn nhiều rừng và truông mây. Một hôm, ông đi đếm bò, thấy thiếu mất nửa con bò, mà xương bò lại vương vải. Ông biết có cọp về ăn bò, tức mình quyết trị con cọp.
Ông lựa một truông mây độc đạo, ngay chỗ có hai gộp đá lớn chỉ đủ cho một đứa con nít đi lọt qua. Phía trên gió, ông đóng một cái trụ, cột con heo nhỏ làm mồi nhử.
Một buổi chạng vạng, con heo mồi kêu eng éc. Biết cọp về rồi, cả ba cha con sè sẹ đi dưới gió. Con cọp ngồi giữa gộp đá rình mồi, cái đuôi lúc lắc, đầu hướng về phía con heo. Theo kịch bản đã phân công, hai người con chạy tới… túm đuôi con cọp ghì mạnh ra sau, hai chân tỳ vào gộp đá giữ thế. Cọp phản ứng dữ dội nhưng không cách chi quay ngược đầu lại được.
Ông Bốn Cang nhanh nhẹn cột dây pháo vào đuôi cọp rồi lấy thùng diêm (hộp quẹt) châm lửa. Pháo nổ, hai người con ông buông đuôi cọp ra. Cọp sảng hồn đâm đầu chạy. Nó càng chạy thì pháo càng nổ dữ dội, mấy phút sau mới hết nổ. Từ đó, cọp kiềng mặt ông, không dám mò về Tam Đàn nữa!
Câu cá ngạnh hàng loạt
Chuyện này của ông Phó Bảy, người câu cá nổi tiếng ở chợ Bàn Thạch (Duy Vinh, Duy Xuyên) kể. Cá ngạnh hình thù giống y chang con cá chốt Nam Bộ; chỉ khác cá chốt ở chỗ da trên lưng nó đen. Cá ngạnh rất mê mồi. Hôm nào có mưa nguồn là ngày sau, cá ngạnh về đầy sông Bà Rén. Người ta câu cá ngạnh mỗi lần chỉ giật được một con nhưng ông Phó Bảy nói mỗi lần ông câu được từ ba đến bốn con.
Cách câu như vầy: Ông lấy một khúc phèo heo, chẻ ra làm bốn rồi cột vào dây câu. Cá ngạnh mê mồi, nhào tới ăn phèo, bốn con ngậm bốn miếng. Chúng rứt ra không được vì phèo dai nhưng không nỡ nhả bỏ vì sợ con khác ăn mất. Ông Phó Bảy nhè nhẹ kéo dây câu lên, vuốt một cái là cả bốn con cùng rơi vào trong giỏ của ông. Ông câu giỏi đến nỗi bầy cá ngạnh trong giỏ không có con nào chết. Có dính lưỡi câu đâu mà chết.
Con cò mạnh
Chuyện này của ông Hương Bường (Trần Bường), người xã Quế Phú (Quế Sơn) kể. Một hôm ông vác cây cần câu dài đi nhắp (câu rê) cá tràu (cá lóc). Móc con nhái bự vào lưỡi câu, ông kéo mấy đường vẫn không có con cá nào cắn câu. Ông nép mình sau đụn rơm, vụt mạnh đường câu vào bụi lát. Roạt một tiếng, cây cần câu ông cong vút lại, tưởng đâu dính cục đá.
Hóa ra, một con cò lớn đã ăn miếng mồi. Con cò giương hai cánh, bay lên. Sợ mất cây cần câu, ông Hương Bường quyết giữ gốc cần thật chặt. Con cò kéo ông bay lơ lửng trên mặt ruộng rồi bay dọc sông Bà Rén lên hướng Duy Xuyên. Sau cùng, ông Hương Bường mỏi tay, sợ té chết bất tử, lên tiếng năn nỉ: “Tau biết mi mạnh rồi. Thôi mi cho tau xuống đất về nhà với bả, mi bay đâu thì bay đi”.
Nói xong, ông buông cần câu, rớt tõm xuống giữa sông Bà Rén. Con cò mang cần câu của ông bay biệt dạng.
Tay sĩ quan đó cũng được
Chuyện này của ông Tri Tiên (làng Thanh Vân, xã Đại Cường, Đại Lộc) kể, được ông Nguyễn A – trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy, kể lại cho tôi nghe. Hồi chiến tranh, một hôm ông Tri Tiên vác cuốc ra đồng thì chợt nghe tiếng máy bay trực thăng phành phạch bay tới. Chiếc trực thăng đừng ngay trên đầu ông, gió cánh quạt làm ông muốn ngã. Ông nghĩ bụng: “Chà, không biết có chuyện chi mà mấy thằng này bay máy bay bắt mình”. Bỗng có một tay sĩ quan thò đầu ra khỏi cửa trực thăng, chào ông: “Chào bác Tri Tiên. Bác khỏe chớ”. “Ừ, tau khỏe. Chớ mi con nhà ai, cháu nhà ai mà biết bác?”. “Tui là con ông X, cháu kêu ông Y là bác ruột”. “Rứa tau nhớ ra rồi. Chừ mi đi mô đó?”. “Tui phải bay vòng vòng. Thấy bác, dừng trực thăng lại chào hỏi thôi. Tui đi, bác hỉ”.
Tay sĩ quan bay đi. Ông Tri Tiên về thuật lại chuyện gặp gỡ cho bà con nghe rồi tấm tắc khen: “Làng mình rứa mà được. Thằng nớ là sĩ quan cấp trung úy mà xem ra cũng có văn hóa, thấy bậc trưởng thượng biết dừng trực thăng lại chào hỏi. Có đứa là đại úy đi xe hơi mà thấy tui, hắn chạy luôn, không biết chào hỏi chi hết”.
Cái chi cũng có độ giạt
Câu chuyện nói dóc sau đây do ông Lê Hoàng Linh, nguyên giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Nam, kể lại. Chuyện khá thú vị, cho thấy “công phu cãi” của người Quảng Nam.
Ba anh bạn gặp nhau. Một anh ở huyện miền núi Bắc Trà Mi khoe:
– Tui trồng một vườn quế. Quế mới ba tuổi mà có một cây cao tít lên khỏi mây xanh, đụng tới trời.
Anh ở huyện Duy Xuyên, hạ du sông Thu cãi liền:
– Ông nói dóc quá. Làm chi có chuyện cây quế mọc lên mà đụng tới trời?
– Ời, thì còn khoảng vài chục thước là tới trời.
Anh Duy Xuyên vừa cãi, vừa khoe:
– Thà ông nói vậy tôi nghe còn được. Vừa rồi, làng tui mới đóng con thuyền dài lắm. Hễ xây ngang nó một cái thì hai đầu thuyền chạm vào hai bên bờ sông Thu, người ta cứ rứa mà bước lên bờ, khỏi cần bơi chèo chi hết.
Anh Bắc Trà Mi phản đối:
– Làm chi có thuyền dài như rứa?
– Ờ, thì nói ngay là nó chưa đụng tới bờ, chỉ cách bờ chừng một vài thước.
Anh thứ ba người thành phố Tam Kỳ, trầm ngâm:
– Lạ lắm mấy ông nghe. Hôm qua trong Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam mình, có chị nớ sinh con ra từ lỗ rún.
Hai anh còn lại gân cổ ra cãi:
– Chuyện tào lao. Nói láo quá sức rồi. Làm chi có ai đẻ được từ lỗ rún?
– Ời, thì như chuyện của hai ông, chuyện của tui cũng có một chút độ giạt. Chị ấy sinh con dưới lỗ rún một gang tay!

Còn đây là một chuyện có thật mà cứ tưởng như… nói láo.
Mẹ Quảng Nam giỏi hơn bác sĩ Pháp
Thời kháng chiến chống Pháp, trong lực lượng bộ đội Việt Minh Quảng Nam, có ông Kostas Sarantidis người Hy Lạp bỏ hàng ngũ Pháp về cùng Việt Minh tham gia đánh Pháp. Sarantidis được đặt tên Việt là Nguyễn Văn Lập. Ông là người bắn giỏi, đã từng dựng đứng khẩu đại liên, bắn rơi chiếc máy bay Morane của Pháp trên ga Phú Cang (Thăng Bình), bắt sống ba sĩ quan Pháp. Một hôm ăn trưa xong, ông Sarantidis bị đau bụng dữ dội. Bụng ông chương lên nhưng đơn vị không có bác sĩ, không thuốc men nên không biết cách chi mà chữa.
Một bà mẹ Quảng Nam thấy chiến sĩ bị đau lăn lộn, bảo:
– Bay đưa hắn vô nhà mẹ đi!
Đồng đội đưa ông Sarantidis vào nhà. Mẹ ra sau bếp, lấy con dao mỏng cạo nhẹ lớp mùn trên mặt tấm thớt làm cá. Bà hòa lớp mùn ấy vào nửa chén nước, bảo:
– Bay cho hắn uống đi.
Sarantidis nhắm mắt, uống hết “dung dịch” ấy vào bụng. Uống xong, ông nghe miệng mũi tanh ói, ọe lên một tiếng rồi nôn thốc nôn tháo. Đợi cho anh chiến sĩ nôn xong, bà mẹ bảo đồng đội cho anh súc miệng, rửa mặt. Rồi bà nấu nước chè tươi, giã nát củ gừng, pha một chén đem cho Sarantidis uống. Uống chén nước gừng mươi phút sau, Sarantidis tháo mồ hôi, bụng nghe nhẹ tênh. Cơn đau biến mất.
Ông chắp tay lạy bà mẹ:
– Con xin lạy tạ ơn mẹ. Mẹ đã cứu sống con! Mẹ ơi, mẹ cho con uống cái chi mà hay rứa?
Bà mẹ cười:
– Nó là… nhớt cá trên mặt thớt đó con. Tau làm cá ít khi rửa thớt. Nó tanh nên con uống vào phải ói. Mà ói ra thì bụng mới nhẹ được. Đây là do mi trúng thực mà đau bụng.
Từ đó về sau, đi đánh Pháp ở đâu, Sarantidis cũng nói:
– Bà mẹ Quảng Nam chữa bịnh đau bụng giỏi hơn mấy tay bác sĩ Pháp nhiều.
– Bả cho ông uống thuốc chi?
– Nhớt cá trên mặt tấm thớt!

BT: Vương Chi Lan

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *