Monthly Archives: Tháng Mười Một 2013

Buổi chiều ấy – Trung Trường

Quà quê

Mãi mê với cuộc mưu sinh xứ người, Sài Gòn đô thị ngột ngạt nắng, bụi và hơi người cay xè sớm tối, chỉ mơ ước được về quê. Nhớ anh Long, người bạn vong niên 30 năm trước hay dẫn mình đi câu cá tràu (tên gọi của người Huế, còn người Nam gọi là cá lóc, người Bắc gọi là cá chuối) dọc theo con kênh vuông theo thành nội Huế.

Xưa, con kênh này giữ vai trò phòng thủ hoàng cung và điều tiết mực nước ở Huế. Hồi ấy, vào những năm 80 thế kỹ trước, cá tràu ở kênh nhiều, nhiều đến độ có những chú tràu lớn và giữ đến độ phải câu bằng mồi vịt con. Anh Long là người mê câu cá đến độ nằm lòng những thủ thuật câu, nơi câu nhất là những chỗ có cá tràu lớn. Còn nhớ, một lần theo anh đi câu, mình lững thững men theo bờ thành, còn anh ngồi trên chiếc thuyền câu bé tẽo teo nhè nhẹ chèo. Chiếc thuyền trôi như không, còn anh, ngồi như bất động chỉ trừ hai tay nhấp cần lên xuống, xa gần, chú vịt con lát lát lại kêu chiêm chiếp, lúc vẫy đạp, lúc bơi bơi. Bổng bụp một cái, mình hét lên còn anh Long như một câu thủ mê nghề lúc thả lúc ghì dìu con cá đến khi nó chịu thua. Một con cá lóc hơn 5kg đen nhầy sau đó thành bữa nhậu của 4 người mà chỉ hết cái đầu và bộ lòng. Anh Long đưa mình cái bao tử con cá, ngon, dòn. Sau bữa nhậu, mình nhớ mãi lời anh, trong cuộc nhậu xứ trong, chỉ người lớn tuổi nhất với được “quyền” xơi bao tử cá, trẻ hơn không biết lớ xớ đụng vào dễ “ ăn bã trầu”. lại biết thịt cá tràu ngon nhất là 2 miếng ở hai bên má cá. Thế mới rõ, nghề câu sao lắm ngón nghề đến cả văn hóa ẩm thực cũng nhập cùng các câu thủ.
Đó là chuyện hơn 30 năm hơn về trước, giờ tôi một mình lặng lẽ xách cần câu ra đầu cầu Bến Ngự tìm đến gốc cây sung già thả câu chỉ để tận hưởng sự chiêm nghiệm của một kẻ vong quê hơn 30 năm giờ tìm về với Huế. Nào đâu phải Huế tôi không có những quán bar, vũ trường hay những quán cafê vườn rất Huế,… và vẫn còn đó những khuôn mặt bạn bè một thưở cùng những lời mời ấm tình quê bên ly trà cung đình hay cạn ly rượu Làng Chuồn nổi tiếng. Sáng, trên cầu Bến Ngự vẫn đủ sắc hoa, bình dị trên từng ánh mắt, khuôn mặt của các mệ các o. Thì mẹ tôi đó, một bà giáo già về hưu đã gần 30 năm khi lẫn khi tỉnh. Lẫn thì trầm tư vô thức như pho tượng trên chiếc ghế trước hiên nhà, thèm có đứa cháu đứa con chịu ngồi nghe bà kể chuyện vài thập niên trước, thuở mình mẹ chống cái nghèo nuôi con đêm đêm bằng đôi que đan, đan áo len thuê để tay mẹ chai sần đôi chỗ khi đôi que đan cứ bóng nhẫy theo thời gian cùng mồ hôi mẹ. Tỉnh thì ra vô la rầy con cháu đến nghiêm khắc để giữ lấy nếp nhà hay thẫn thờ nán lại mỗi đêm, chứ riêng gì đêm Nguyên Tiêu chờ tiếng gọi cửa của những đứa con chưa về kịp như tôi.
Gốc sung già nơi tôi ngồi câu là hậu duệ của những gốc sung thuở Ông già Bến Ngự – Phan Bội Châu neo thuyền do bị quản thúc vì yêu nước. Chỉ sự kiện này thôi cũng đủ để địa danh Bến Ngự thêm ngấm vào máu thịt của người Huế, mà thành nhạc, thành thơ với những “ Đêm tàn Bến Ngự”. Bến Ngự còn là nơi xưa thuyền rồng của vua cập bến mỗi khi đi tế trời ở Đàn Nam Giao. Còn dòng sông tôi ngồi câu được Vua Minh Mạng đổi từ sông An Cựu thành sông Lợi Nông chỉ vì rằng: “ Đức Tiên Đế ta tốn mấy vạn vàng đào con sông ấy để lợi cho dân, nay thấy mùa màng tươi tốt, so với xưa hơn biết bao nhiêu, như thế mới biết rõ rằng bậc thánh nhân làm việc gì để đến muôn đời về sau, không phải như những hạng người muốn cho mau và chỉ thấy gần đã biết được”.


Sông An Cựu, con sông “ Nắng đục, mưa trong” có từ sự tích khi khơi dòng đào đã chạm vào hang động của một con thuồng luồng khổng lồ, nên khi trời nắng nó trở nên dữ tợn, vẫy vùng, khuấy đảo phù sa, làm đục ngầu cả dòng nước nguồn, chính vì vậy mà sông An Cựu trở nên đục vào những ngày nắng. Còn những ngày mùa thu, tiết trời mát mẻ, thuồng luồng nằm im trong hang động, dòng sông không bị khuấy đảo, nước sông An Cựu trở nên trong vắt như mặt nước sông Hương. Giờ tôi, đứa con của Mẹ của Quê ngồi đây thả câu, gắng câu về những ký ức xưa củ vui nao lòng về quê, gắng thả câu buông hết những muộn phiền mang vác suốt 30 năm hơn lở bước bỏ quê đi ăn mày xứ người vào lòng sông quê.
Huế sạch và sông Huế cũng sạch là điều du khách nào cũng thấy, nhìn những chiếc thuyền của các công nhân vệ sinh lâu lâu lại qua lại trước chỗ tôi ngồi để vớt rác chợt yêu người quê hơn. Nhìn vào gia tài vài chú cá chẻng, cá rô phi, cá ngạnh sau 2 giờ câu tôi thấy mình hạnh phúc và được thật nhiều khi thả hết những muộn phiền xuôi theo dòng nước. Xin cảm ơn món quà quê vạn ngàn lần Huế ơi.

Buổi chiều ấy

Chiều ấy, ở bờ sông Niết Lương, trong không khí hầm hập của chiến tranh, các mũi tiến công đang ào về Nông pênh, phút yên lặng hiếm hoi sau giao chiến. Lính bộ binh uể oải chờ vượt sông, mình gặp Thanh, đưa mình chiếc kính mát Thanh nói, nhiều đồ lắm, chẳng lấy thứ gì vì biết mai con sống không.
Vào đến Nông Pênh, gặp Hải lang thang báo tin Thanh mất tích. Thì ra khi đội hình sắp vượt sông , chợt có xe tăng địch xuất hiện. Thanh cùng 2 đồng đội nữa xách B40 lên và lọt vào ổ phục kích. Đồng đội lên chi viện và tìm chỉ thấy máu và một vài kỷ vật của Thanh.
10 năm sau, mình đã cùng nhiều đồng đội xác nhận cái chết của Thanh với được công nhận Liệt sỹ. Cách đây 4 năm, Châu bạn học xưa của mình và Thanh ở Quảng Bình đang khuya điện vào tức tưởi : Thanh nó báo mộng không có nơi nằm nên đói lắm. Mình bay ra Huế, tìm đến nhà Thanh, không còn dấu vết, cả gia đình Thanh đi kinh tế mới biệt tăm. Mình để lại số điện thoại cho chủ mới rồi thắp hương khấn Thanh có thiêng thì báo cho người nhà số điện thoại của mình. Thế mà thật, mẹ và em gái Thanh điện cho mình. Giờ thì Thanh đã có một ngôi mộ gió xây cất đàng hoàng tại Đồng Nai. Chỉ còn một điều, riêng mình biết, đó là chuyện Thanh yêu Sương âm thầm, bao lần về quê, ghé thăm Sương chỉ để muốn cho Sương biết mà không đành. Thôi Thanh, ngày 27/7 sắp tới, nhớ mày tao viết thay nén nhang. Còn Sương, cứ vậy Thanh nhé.

Hạnh phúc

Hắn nằm dài trên bãi cỏ, hương lài đêm thoang thoảng trong khu vườn hắn dày công chăm sóc. Trăng rờn rợn vàng vọt trên búp quỳnh sắp nở. Hắn khoái được nhìn sự run rẫy của những cánh quỳnh khi nở. Đức đến, len lén ngồi như kẻ mộng du. Hất hàm về phía chai rượu và dĩa mồi cho Đức, thì vẫn vậy, Đức thường sang nhà hắn khi li rượu, lúc tách trà.
Len lén bỏ đi len lén quay lại, Đức lí nhí mời hắn nhậu, hắn gắt, vẽ chuyện khi Đức bày ra dĩa mồi và rành rẽ : Mình biết mồi không ngon, nhưng nhậu nhé. Vợ mình tháng cho mình dĩa mồi và xị rượu.
Nhấp chén rượu cay sộc tận óc, nước mắt hắn chảy, mẹ kiếp ly rượu đĩa mồi tháng tháng. Con Đức bán vé số, vợ Đức giặt mướn lau thuê.

Sương sớm

Sáng, dậy sớm đi Đồng Nai Kiếm việc làm thuê. Sài Gòn lạnh và sương tím tái. Chợt nhớ thuở 12 – 13 tuổi đi xếp hàng mua thực phẩm giúp mẹ. Trời Thường Tín ( nay là Hà Nội) lạnh như dao cắt, lùi lũi đi một mình trong đêm, cứ nghe tiếng oàm oạp sợ ma muốn khóc. Tới lượt mua đã 11g trưa, nhớ lời mẹ mình xin cô bán hàng cho miếng thịt nhiều mở. Khi về tới nhà với biết làm rơi sạch tem phiếu cả năm. Chạy lại tìm, vừa chạy vừa khóc, 10km hơn mà không biết mệt vì sợ mẹ đánh đòn. Mất tem phiếu thực phẩm thời đó là chết.


Không tìm được, mình trở thành thằng nhóc mò cua, lặn cá, nuôi vịt, trồng rau muống bè giỏi đến độ cả nhà ăn không hết. Mỗi lần mang xâu cá về, Loan em trai muốn khóc vì phải làm thịt liên tục. Còn cua, nhiều quá, mẹ làm thành những hủ mắm thơm lựng. Nhớ thằng Hổ, thằng Khóa,..một lứa đen nhẻm như nhau vì lam lũ. Giờ chúng sao rồi. Còn mình, hi vẫn làm thuê.
Đến Đồng Nai, ơn chúa có việc. Giờ, những con chữ mà toàn cổ tự quấy mình đến khốn.

BT: Vương Chi Lan

Khúc hát dặm đường – Nguyễn Văn Biên

Thưa anh, tôi kể cho anh nghe một câu chuyện mà lâu nay khiến tôi trăn trở mãi,vì trong đó có chút gì đó vướng vất hình ảnh của bọn mình một thời quay quắt. Tôi biết là anh chẳng thích thú gì ba thứ chuyện nhì nhằng này, song tôi cũng chẳng biết kể cho ai, tôi biết anh còn biết bao chuyện phải quan tâm, nhưng vì chỉ có anh mới chịu khó nghe tôi kể. Anh biết đấy chia sẻ với người khác cũng là nhu cầu cần thiết để sống phải không anh :

“Hắn rùng mình tự nhủ chẳng ai học được gì cả, dù cơn mê của từng người có khác nhau thì trong họ vẫn có một mẫu số chung là sự bừng thức ngột ngạt không đầu cuối, lăng xăng tưởng thế này thế nọ, song tất cả đều rơi tòm xuống sự thật cau có ướt nhoẹt mùi cô độc ; mùi của lưu huỳnh bốc lên từ mười tám tầng cổ tích của một đêm nào mẹ kể con nghe.
Hắn chậm chạp bước tới nơi mà ngày nào đó còn là quê nhà, có khói lam trên mái tranh nghèo đúng y như trong sách diễn tả, đúng một cách kinh khủng, đúng một cách ngây ngô như nhịp đi của em bé trong mắt của mẹ, hắn không biết gọi ai, vì hắn không còn ở chốn này đã hơn hai mươi năm, hắn đã ra đi trong một buổi mai vàng héo, mẹ hắn không dám đưa tiễn vì sợ sẽ khóc nhiều thêm bịn rịn, hành trang là gói quần áo cũ với một đồng xu gói trong miếng vải vàng lấy hên, đồng xu mà lúc bé hắn đã giành được trong một đám chay ở chùa làng, cái đồng xu đó vẫn còn tòn teng trên cổ dù bây giờ đầu đã có hai thứ tóc, cái ngày xa lắc ấy hiện về như bươi móc sự mất gốc trong hắn .
Con đường về làng không còn gập ghềnh như hồi xưa, người ta đã rải nhựa phẳng phiu, nếu muốn hắn có thể chờ xe đò, gọi xe ôm hoặc thậm chí có thể thuê xe taxi để về làng, nhưng hắn không làm thế, hắn muốn nhấm nháp chút thân ái mà đồng đất quê hương đem lại, cái mùi ngai ngái của phân trâu trên mặt đường trải nhựa khiến hắn nao lòng, mấy bụi sim già cằn cỗi cố chòi lên bên cạnh vệt nhựa đường vài chùm bông tím trắng, thật sự cho hắn cái cảm giác yên ủi, cả tuổi thơ quặt quẹo hắn đã có biết bao kỷ niệm với loài cây đồng nội mạnh mẽ và thơm thảo này. Hắn muốn khóc hu hu . . .vài tiếng cho thỏa lòng vui sướng , mà chịu không khóc được, nước mắt cạn đâu hết cả rồi. Hai bên đường nhà cửa chen ngực ra mặt tiền, vôi vữa loang lỗ, màu sắc nhòe nhoẹt tương phản gay gắt làm hắn bực bội, tiếng đàn bò rượt đuổi nhau trên đường hòa cùng giọng nữ cao với những nhịp lơi một cách chuyên nghiệp lại khiến hắn mĩm cười nhẩm đọc một câu trong tuồng hát cổ :Phượng hề! Phượng hề ! Qui cố hương. Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng … với tất cả lòng yêu thương, mong chờ.


Nơi ở của hắn khi xưa bây giờ hoang phế, mẹ hắn cũng đi rồi, khu vườn đã đổi chủ nhiều lần, hắn định rẽ vào nhưng lại thôi , mấy cây mít trước ngõ người ta chặt lấy gỗ chỉ còn trơ lại gốc cây ứa ra dòng nhựa như vệt máu bầm đen loang lỗ khiến hắn rùng mình . . . Đã nhiều ngày loanh quanh trong làng cũ, nói cười giao đãi, hắn có nhu cầu chia sẻ với mọi người , muốn được sớt chia nổi nhọc nhằn đã hằn trong lòng hắn từ những được mất , nhưng hầu như hắn nhận được toàn những từ ngữ vô cảm đãi bôi, cái mà trước đây ít tìm thấy nơi vùng quê hiền lành này. Hình như không ai còn nhớ đến hắn hoặc họ không biết hắn là ai, một vài người bà con nhìn hắn một cách xét nét đề phòng, hắn tự hỏi sao mọi người tỏ ra xa lạ như vậy, chỉ vì hắn có vẻ ngoài rừng rú đôi chút ,hay vì hắn không biết giải bày bằng ngôn ngữ của đồng loại, hắn nghĩ chẳng lẽ mới hơn vài chục năm ra đi mà hắn đã trở thành Từ Thức trong truyện cổ tích, nhưng Từ Thức khi xưa lên chốn bồng lai gặp tiên nữ còn hắn thì gặp ai chứ !. . .Hắn phải vật lộn , quay quắt để mà tồn tại để cuối cùng mang đầy người nổi tật nguyền vì bất an ,vậy thì hắn có lỗi gì chứ !. Từ Thức bị quên vì anh ta đã nhận phần thưởng rồi còn hắn có được gì đâu sao xóm làng cũng không nhận lại hắn, và hắn nhớ ra mọi chuyện đã qua với hắn sao mà kỳ cục quá những câu chúc tụng nhạt nhẽo mà người chúc như một cái máy nói, và rồi về đâu những câu nói xa vời vô cảm mà người đời đãi nhau lâu nay trên mặt đất này, hắn đã từng đi xa về gần từng sụt lỡ những ước vọng, từng quay quắt với chính mình khi cố uống cạn những chén đời và ám ảnh câu nói của người bạn thân khi kể về công việc của mình nơi đất khách: “ Dây chuyền cứ chạy hoài, đến chỗ mình thì lắp món đồ do mình phụ trách vào. Công việc không nặng nhọc gì nhưng nhàm chán, cứ phải đứng nhìn hoài vào băng chuyền đang chạy, mấy bửa đầu về nhà thấy cái gì cũng chạy hết chợt nhớ tới bộ phim câm của Charlot Chaplin xem lúc nhỏ và thấy cuộc đời sẽ vô vị nếu cuối cùng là cõi KHÔNG . . KHÔNG . . .” Hắn cảm thấy mình hình như cũng bị quay như vậy, dù không ở trong một cổ máy nào cụ thể, vậy thì hắn tìm cái gì ở đây vậy ! Hắn trở lại quê nhà như một con thú tìm về hang theo bản năng không lựa chọn , những ký ức tuổi thơ gọi hắn về để ẩn nấp chính mình khỏi cô độc và nhàm chán, hắn bỗng sợ nhỡ ra bên kia là cõi “không, không . . .” như bạn hắn nói thì biết về đâu, hắn phì cười về ý nghĩ ngây ngô của chính mình và cảm thấy thương bạn mình quá. Có phải tự hắn quá tham lam cứ ôm giữ cái này cái nọ coi là của mình, không nói ra nhưng hắn coi dòng sông đó là của riêng mình, cành sim tím thẩm kia là của hắn, . . . hơn thế nữa hắn còn tưởng chỉ có hắn mới biết đựơc vẻ đẹp của màn sương đang lơ lững trên sông kia, của cành sim già lã ngọn trong nắng chiều dìu dịu , và một vài câu ca xưa cũ hằn sâu trong trí nhớ . . . Và từng phút một hắn cảm thấy bị mất mát, kể cả ngôi làng hiền lành của hắn cũng biến mất vẻ bao dung từ khi hắn vê đến . Có phải vì hắn luôn đặt vấn đề sở hữu vào mọi ngóc ngách của suy nghĩ nên luôn nhận ra cái được, mất đan chuổi trong từng bước đi của cuộc đời mình. Hắn rao giảng cho mình điều gì trong muôn trùng tăm tối của cảm khái và suy hư, lúc nào hắn cũng co cứng mình đề gồng đở chính nổi nặng nhọc tưởng tượng của mình và tự làm bít lối đi, hắn chưa một lần dám buông bỏ một sợi lông chân của mình , tự đau đớn và tự hạnh phúc một cách dễ dãi và tự hỏi phải chăng mình đã sai khi nghĩ rằng tình yêu sẽ thanh toán được mọi thứ. . .
Hắn thức dậy trong một quán rượu sơ sài bên một ngã ba đường, người chủ quán mĩn cười với hắn đầy vẻ thân thiện, mặt trời đã lên cao lắm, phát ra từ chiếc máy hát cũ kỷ trong quán là một giai điệu ủ dột than thở khiến hắn xốn xang, tiếng cười nói trên cánh đồng trước mặt vọng tới gây cho hắn một cảm giác lơ mơ, chiếc đồng xu đeo trên cổ cọ quậy như bươi móc sự mất gốc… Và hắn cố nắm bắt ký ức của những mùa cũ đơn sơ mong được cứu vớt như những cô hồn lạc chợ! Hắn rùng mình tự nhủ chẳng ai học được gì cả, vì cơn mê của mỗi người dù có khác nhau thì trong họ vẩn có một mẫu số chung là sự bừng thức ngột ngạt không đầu cuối, lăng xăng tưởng thế này thế nọ nhưng tất cả đều rơi tòm xuống sự thật cau có ướt nhoẹt mùi cô độc mùi của lưu huỳnh bốc lên từ mười tám tầng cổ tích mà một đêm nào mẹ kể con nghe.”


Người lão nông kể cho tôi câu chuyện này dừng lại đột ngột, tôi cũng chẳng biết cái nhân vật trong câu chuyện sau này sẽ ra sao, có thật anh ta nghĩ: “ Tình yêu cũng không thanh toán được mọi thứ.”…
-Vậy thì buồn quá phải không anh.

Lập Đông –Quí Mùi 2008

BT: Vương Chi Lan

Tình yêu và cuộc sống – Đào Tiến Đạt

Những bức ảnh tuyệt đẹp trong góc độ nghệ thuật và cảm nhận cái đẹp thơ mộng của thiên nhiên tự có, cái đẹp văn hóa do bàn tay và trái tim dân tộc xây dựng nên từ rất lâu đã để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau những công trình kiến trúc đẹp đi vào lịch sử. Continue reading

Lời bình cho câu chuyện “Kết thúc hay bắt đầu” (tác giả Vương Chi Lan) – Lan Chi Lan Chi

LỜI BÌNH CHO CÂU CHUYỆN “KẾT THÚC… HAY BẮT ĐẦU.

Có nhẽ người sắp lìa xa thế giới thường có những lời trăn trối thật và rất cô đọng, vì quỹ thời gian không cho phép họ lan man.


Câu chuyện của người từ cõi chết trở về “Kết thúc… hay bắt đầu!”của tác giả Vương Chi Lan thật xúc động. Nhân vật “Tôi” tự sự về hoàn cảnh của mình và người thân trong nỗi nghẹn ngào rơi nước mắt. Chị vừa trải qua hai cuộc phẫu thuật, một cuộc phẫu thuật để gạt bỏ khối u bệnh tật, một cuộc phẫu thuật nội tâm để tìm ra chân lý, và cách đối diện những vấn đề có liên quan đến niềm vui, nỗi buồn của quá khứ, hiện tại và tương lai.
Những trải nghiệm của “Tôi” không có gì to tát nhưng nó là trải nghiệm của một con người luôn lấy tình thương và lòng bao dung làm trọng, lấy trách nhiệm và bổn phận để soi mình cho sự ra đi hay ở lại đều mong rằng lương tâm mình được thanh thản. “Tôi” đã ví cuộc phẫu thuật tâm hồn mình “ sự giải phẫu nào mà không đau. Cũng xé thịt ra mới bỏ nó, có khi lại di căn lung tung vì nó có chân có rễ khắp các tế bào rồi… đó có những cái mình hiểu nó tận ngọn rễ mà không sao gỡ rối được, đó là sự chọn lựa giữa được và mất”
Câu chuyên đan xen giữa nỗi niềm của người kể chuyện và gia đình cậu bé mà nhân vật tự sự chính là dì ruột, thật sự đã để lại những ấn tượng không thể quên.
Xuyên suốt câu chuyện là cậu bé Thịnh tội nghiệp, có cha có mẹ mà sao nó vẫn côi cút, tuổi thơ của nó vẫn không được nương tựa cha mẹ, đành phải tựa vào tình thương của người em gái mẹ mình, nó gọi là dì Út!
Mơ ước của Thịnh chỉ vẻn vẹn muốn có được cái xe đạp điện để ngày ngày đến trường không bị trễ do đường xá quá xa.
Cậu bé chưa kịp hoan hỷ với món quà dì Út tặng thì niềm đau, nỗi buồn lại ập đến. Nó ào ạt như những đợt sóng dập vùi hết niềm mơ ước này đến niềm mơ ước khác của cậu bé, khiến tâm hồn của nó trở nên trơ lỳ, chai sạn, khóc cũng không thành được tiếng.
Nhân vật tự sự không nói nhiều đến bạo lực gia đình, nhưng ấn tượng của bạo lực gia đình lại chính là cái đinh đóng chặt vào câu chuyện. Nó găm vào lòng người đọc hình ảnh một người đàn ông trong cương vị một người cha vừa bê tha, vừa vô trách nhiệm và thiếu nhân tính. “Dì út ơi! Tối nay con đi ngủ con vui lắm con có chiếc xe đạp đi học rồi con vui cả trong giấc ngủ… hix ..hix…”

Cháu vừa khóc vừa nói trong giọng nói nghẹn ngào… tôi vẫn lo lắng như có điều gì liên quan đến món quà của tôi khiến cháu phải bị đòn, tôi cũng rươm rướm, mũi tôi cay nồng, mắt cũng bắt đầu đỏ. “Lúc 2 giờ sáng ba đi làm mới về đầy mùi bia, ba say mèm hỏi mẹ chiếc xe đạp của ai? Mẹ vừa nói của thằng Thịnh thì ba lấy ghế đập vào xe. Con đang ngủ nghe tiếng ba la hét và tiếng mẹ khóc, tiếng đập đồ… con hoảng hồn tỉnh dậy chạy ra thì… xe đạp điện bị vỡ ba vẫn đập rồi ba lôi ra đường ba quăng… con chỉ biết khóc thôi dì Útt ơi… hix hix…”
Nói gì bây giờ.
Rồi chi tiết“… Dì rất buồn ba con ngày nào cũng nhậu, cũng say xỉn độc tài, ỉ mình là đàn ông vung tay quá trán, đánh mắng mẹ con bầm mình bầm mặt, đánh vợ mình mà nhổ cả chùm tóc sứt cả da đầu,… mà không phải một hai lần, quá nhiều lần trở thành thói quen, lại xem đó là niềm tự hào đánh vợ mình xem như là bản lĩnh đàn ông. Người đàn ông bản lĩnh khi lập gia đình là làm cho gia đình hạnh phúc, êm ấm là trụ cột của gia đình, yêu vợ và thương con lo được cuộc sống vợ con sung túc, có ăn có bận với mọi người. Dù học không nhiều nhưng vốn tri thức sống ở đời ít ra là cần phải có… và nhiều yếu tố khác nữa, bấy nhiêu thôi đã thấy ba con không làm được rồi, lấy đâu ra cho mẹ con hai chữ hạnh phúc.”
Hạnh phúc thật xa vời.


Hình ảnh người đàn ông hiện lên trong câu chuyện, đi không vững bước, xiêu nao như một chiếc lá trong vòng gió xoáy, không làm chủ được bản thân. “Nắm tóc chốc da” y đã dựt tóc vợ; chiếc xe đạp điện bị gã đập phá quăng quật không có lý do, khác nào dòng xoáy của cơn lũ bạo lực gia đình đang nuốt chửng những sinh linh trong cái gia đình tội nghiệp của gã.
Bà mẹ của hai đứa trẻ, người vợ tủi hổ của gã say kia, người chị ruột tội nghiệp của nhân vật tự sự hiện lên trên trang viết thầm lặng, rúm ró đến nao lòng. Bà mẹ tội nghiệp của hai đứa con xuất hiện như một cái bóng, cam chịu, lầm lũi nhàu tã và thui thủi, có nhẽ bởi tại bà sống trong đòn roi bạo hành quá lâu nên bà xuất hiện câm lặng lầm lũi. Rồi người dì kia, tuy không trực tiếp bị bạo hành, nhưng những ám ảnh của người thân đã làm cho nhân vật “Tôi” cũng bị biến dạng đi vì đau đáu niềm thương chị, thương cháu mà không biết có cách gì để tháo gỡ nỗi khổ cho họ, giúp người thân vượt qua những hệ lụy của cảnh bạo hành. Chị sống trong nỗi ám ảnh của cảnh phải chịu đựng nhìn thấy người thân bị đày đọa mà không sao giải thoát được, đó là bạo lực giữa những người thân, nó can go và phức tạp hơn người ngoài tưởng nhiều nhiều lần. Câu chuyện bạo lực gia đình nhà cậu bé Thịnh hiện lên sống động, đau đáu, ngột ngạt khiến người đọc phải rùng mình ớn lạnh. Ngần bấy nhiêu thôi đã đủ găm vào người đọc nỗi xót xa ai oán của người trong cuộc. “Họ biết mình, cái vỏ bọc bề ngoài khi… mất nhau vậy” . Còn nhiều nhiều những chi tiết nhân vật tự sự an ủi, dặn dò cậu bé trai cưng trước khi người ra đi, giã từ cuộc sống và người thân cũng rất cảm động, nó toát lên một hiện thực:
Người thì từng giây từng phút đấu tranh với cái chết để giành lấy sự sống, còn người đang nắm giữ sự sống lại không biết trân trọng. Thực là nghịch cảnh, bởi thế câu chuyện rung động được lòng người và lôi cuốn người đọc vào mạch cảm xúc đến phút chót của câu chuyện….
Câu chuyện khép lại rồi nhưng tôi vẫn thấy quanh quất đâu đây những mảnh đời như dì Út, họ không có gì nhiều ngay cả sự sống, thế mà lúc tưởng như lâm chung, tình thương của họ đối với đời vẫn thắm như miếng trầu đã nhuyễn hương vôi, không đơn sai và có phần độ lượng. Họ ham muốn được gieo hạt giống lành cho thế hệ tiếp nối nên những thân phận bị cầm tù bởi bạc đãi và đòn roi có nơi để đến, có nơi để về, có nơi để nương tựa tinh thần như anh em cậu bé Thịnh và Ba. Điều qua trọng là họ biết sẻ chia để yêu thương, để nâng đỡ những số phận chả may gặp nghịch cảnh.
Trong câu chuyện xuất hiện duy nhất một lần “Tôi”đã để cho người đàn ông đã từng khao khát mái ấm gia đình xuất hiện: Có một lần tôi lướt qua trên mạng, một người bạn ghi lại vài dòng về sự khao khát có một mái ấm gia đình một tình yêu chân thật đó là giá trị lớn nhất đối với anh ta, anh ta viết:
“ Cuộc đời chỉ khi nào có cho mình một mái ấm gia đình chân thực. Mình biết giữ và nâng niu trân trọng với tình yêu Hạnh phúc mới là giá trị lớn. Tôi tìm cho mình nửa còn lại thấy thật xa, hình như đang ở quanh đây mà sao mình còn bối rối. Hy vọng một trái tim sẽ hợp với mình để được yêu và sống hết đời cùng người ấy. Mình mong mọi người ai cũng đủ đầy, hạnh phúc”.


Điều ấy cũng có nghĩa là Hạnh phúc không phải đâu xa lạ, chỉ là ta có biết tìm, nuôi dưỡng và trân trọng nó hay không. Cũng như Thịnh trong con mắt dì Út, là một cậu bé ngoan, biết phân biệt phải trái, là niềm tự hào của dì còn với ba ruột Thịnh là đứa con không biết vâng lời, là gánh nặng trên đôi vai lười lao động của kẻ không biết có ngày mai. Hai người đàn ông với hai thái độ ứng xử khác nhau, chắc hẳn đã tạo nên một đòn bẩy để người đọc tìm thấy mình trong cái thế giới khác biệt ấy…

BT: Vương Chi Lan

Nước Nga hai trong một – Thu Trân

Từ xứ sở bạch dương bạt ngàn tuyết trắng

Tôi đã qua những miền đồng thảo Kachiusa của xứ sở bạch dương bạt ngàn tuyết trắng, để thấy rằng nơi phương trời xa xôi đó có những cuộc sống tuy còn chật vật nhưng giá trị bất biến của một nền văn hoá Nga vĩ đại mãi mãi làm đắm say lòng du khách. Continue reading

ĐEN – Hà Mạnh Luân

Không còn ai nói với tôi về Đen, con mèo có cái tên cũng là màu lông của nó ấy, đã vĩnh viễn bỏ đi từ cái đêm mưa cuối hạ dạo đó…

Lần trở về này của tôi như một điều tất yếu. Như cún con đói lòng lần đến buồng vú mọng căng hay như én nhỏ tìm về với nắng xuân ấm áp. Bao nhiêu năm rồi! Bụi bặm Hà Nội nhuộm sạm da tôi, và đôi mắt veo trong giờ đã hoen nâu màu khói!
Nhưng tôi vẫn thấy Đen của ngày xưa! Sự thực: không hiểu vì sao lần trở lại này tôi đã âm thầm nuôi hi vọng được gặp lại nó. Xem nào: nó chắc hẳn cũng đã già lắm, lông sẽ không dày không đen mượt, đôi mắt ngả vàng thiểu não cùng phản xạ tinh nhanh học được từ một cuộc sống hoang! Đen sẽ nhận ra tôi!…
Bố rao bán căn nhà. Cái biển đề “ bán đất” cùng hàng số điện thoại bị tôi nhổ đi. Ông trừng mắt, nhưng tia máu giận dữ rân rân trên mặt ông lặn đi ngay tức khắc. Là vì trên má tôi: những giọt nước mắt đuổi nhau hòa nhập. Tôi đã quỳ xuống van ông, như cái cách người ta xin tha mạng sống!
Căn nhà được giữ lại. Bố tôi bay vào Nam theo người đàn bà mới. Từ đó, cánh cổng gỗ – lúc ấy còn thơm nước sơn – khép lại, khoá chặt những gì nằm phía sau nó…

Hà Nội. Một ngày xám. Trời tuôn mưa ào ạt như nước mắt tôi tỉ tê trong lòng. Mưa không thấy mặt người, phố phường ngập trong biển nước. Xe cộ được dịp nghỉ ngơi, đây đó một vài chiếc thuyền tôn hiếm hoi xuất hiện. Nước dâng ngang bụng, tôi bước đi từng bước nặng nề, càng nặng hơn khi đột ngột có vật gì đó bám chặt lấy chân phải tôi. Tôi quờ tay xuống, giật mình chạm phải một thân người mềm nhũn…
Người con gái được tôi cứu khi nàng chẳng may xẩy chân xuống miệng cống bật nắp dạo ấy, chính là vợ tôi bây giờ! Cảm kích trước ơn huệ trời biển của tôi, bố nàng đã đưa tôi về nhà, xin cho học cấp ba cùng nàng- hai đứa chạc tuổi. Thời gian thấm thoắt trôi đi, tôi và nàng yêu nhau lúc nào chẳng hay. Nghiễm nhiên tôi trở thành người thành phố!
Người thành phố! Căn hộ ba tầng mặt đường khu Cầu Giấy, lúc nào cửa kính cũng đóng chặt. Mỗi sáng, tôi phải đứng rất lâu trước tấm gương bồn rửa mặt. Mọi thứ đều ngăn nắp bóng loáng, nhìn có vẻ sạch sẽ. Nhưng mũi tôi lúc nào cũng nhiều hỉ! Bụi! Thứ bụi vô hình và tổng hợp, chỉ khi nó ken chặt lỗ mũi rồi mới hay! Ngày ngày tới Toà soạn rồi trở về như một con ong cặm cụi, tôi vẫn thấy nơi đây ngột ngạt. Hình như ở thành phố thiếu ô xi…
Không phải nhiều lần, mà là thường xuyên hình ảnh Đen xuất hiện trong tâm trí tôi. Mỗi khi đêm về, tôi thường dành một tiếng để ngả mình trên chiếc ghế bành trên tầng thượng. Đêm tối nhiều hôm trời không trăng sao, giống như cả vùng trời câm trong kí ức mà tôi vẫn âm thầm giấu kín…

Lần trở về này của tôi như một điều tất yếu. Chắc hẳn vợ con tôi giờ này đã dậy và đang hoảng hốt trước sự vắng mặt đột ngột của tôi kèm dòng tin nhắn lại “ anh đi công tác đột xuất”.
Ngoài ba mươi tuổi. Nhiều nơi tối đến và đi, chỉ kịp ghi nhớ bằng các bài báo để lại, cùng sự tìm hiểu qua loa về vùng đất ấy đủ để nhận được cái gật đầu của sếp. Duy có nơi này, mọi sự hiện hữu hay vô hình đều đã ăn sâu vào mạch máu, nhưng tôi chỉ có ý định đào xới nó trong góc khuất trái tim…

Cỏ dại mọc ngang hông người trên khoảng sân gạch trước nhà. Cánh cửa gỗ xanh mục ruỗng, chỉ đợi bàn tay người ẩy nhẹ là siêu vẹo. Vụn gạch và cát vữa rải đầy trên lớp nền bê tông. Không khí đã mốc, kỉ niệm cũng lên rêu!
Đây rồi! căn buồng có ô cửa sổ rộng nhìn ra khoảng ao lăn tăn sóng. Đó là vương quốc ăm ắp mộng mơ của thằng bé tôi một thời.
Cửa sổ trông ra làn nước lấp loáng. Cái bờ ao có những mỏm đất bạc đầu, mỗi độ gió bấc xé lá chuối ràn rạt, dáng mẹ gầy lại liêu xiêu bên làn nước, cắt lá chuối khô đem về nấu cám lợn. Có những tên chẫu chàng tinh ranh hay phụt nước tiểu khi mẹ hạ buồng chuối tiêu quả đều tăm tắp. Có dàn muống nước thân đỏ tía giăng hoa tím phai bên các miệng lỗ chuột đồng đùn lên đầy vụn đất…

Chỉ trách mẹ đã không còn là mẹ như của ngày xưa.
Mẹ đã rời xa cái bờ ao có những mỏm đất bạc đầu ấy, để đem về những thứ xa lạ tôi chẳng thể quen…

Kể từ năm cuối cấp hai, những hình ảnh thân thương phía sau ô cửa số không còn nữa. Xuân về, mưa phùn lích tích ngân trên khoảng ao sáng nước, nhìn bóng những đàn én nhỏ sải cánh về miền xa xôi, lòng tôi quặn lên nối nhớ mong khôn xiết.
Tròn một năm, mẹ về. Chiếc giường đơn kê sát ô của sổ của tôi bị thay thế bằng chiếc giường đôi gỗ lim đen lịm. Con trai đã lớn, nhưng mẹ nhớ mùi con trai mẹ, mẹ vào ngủ chung. Nhớ mùi con, nhưng mẹ chẳng thể ngửi, bởi mùi nước hoa sực nức trên người mẹ đã át đi tất cả; bởi mái tóc xoăn nhuộm vàng của mẹ không còn là ngọn tóc đen mượt hương bồ kết ngày xưa để con hít hà. Bởi mẹ nằm cạnh con, nhưng mẹ đam mê hơi ấm khác!- mẹ hít hà mùi lông của con mèo đen mà mẹ mang về từ Đức!
Con mèo đen bị bố ghét. Nó chỉ quen ăn phó- mát, xúc xích, hăm-bơ-gơ… không quen ăn tôm cá tanh nồng đồng đất quê mình!

Năm tôi học lớp mười một, mẹ lại về. Có những chuyến trở về, để mà đi mãi mãi. Tôi còn nhớ như in ánh mắt đục mờ và nụ cười méo sệch của bố tôi hôm ấy! Bố cầm cục tiền bọc lớp giấy báo mẹ trao, bất động trong làn khói thuốc lào xanh eo óc…
Chiếc ô tô con nháy đèn, bấm tuyn tuyn ngoài cổng. Mẹ gọi tìm con mèo Đen. Lạ là nó không ngoan ngoãn ùa tới mẹ như mọi bữa nữa, lặng lẽ nó men vào cuộn tròn trong lòng tôi. Mẹ chạy đến bên chiếc va li để sẵn ngoài hiên, bật ô. Bóng mẹ nhanh chóng nhạt nhoà theo màn nước.
Khi ấy trời mưa rất to…

Con Đen sau đấy cuốn tôi như hình với bóng. Mẹ đi được một tuần, chiếc xúc xích cuối cùng cũng hết. Vào cái đêm con Đen bắt đầu ngấu nghiến nhai con cá đầu tiên, bố lặng thầm đến bên, thình lình phang vào mạng sườn nó một cú đấm. Khi tôi giật mình quay lại sau tiếng kêu oé, chỉ thấy một bóng đen lao vụt qua cửa. Đêm ấy, cũng lại là đêm mưa tầm tã…
Hôm sau bố gọi tôi dậy sớm, dúi vào tay tôi cục tiền. Trước cổng, tấm biển “bán đất” được dựng lên…

Ngoài ba mươi tuổi. Nhiều nơi tôi đến và đi. Một lần có chuyến công tác vào tp Hồ Chí Minh, cách đây mấy năm, tình cờ tôi được biết đến cuộc sống riêng của bố tôi. Ông đang rất hạnh phúc bên người vợ mới cùng hai đứa con gái sinh đôi xinh xắn. Ông thoáng giật mình khi bắt gặp ánh nhìn như trăn trối của tôi về phía ông, trong một nhà hàng sang trọng ven đường quốc lộ. Không ai hỏi ai. Chắc ông không thể nhận ra đứa con trai bỏ rơi của mình, vì tôi đã khác xưa nhiều lắm. Còn về phần tôi, nhìn vẻ mặt mãn nguyện của người mẹ kế cùng hai đứa em gái chung huyết thống, tôi đã nghĩ: chẳng nên khuấy đục cốc nước đã lắng cạn làm gì…

Có tiếng sột soạt phía sau lưng. Đôi mắt vàng thiểu não tròn xoe sợ sệt. Roạt, bóng đen lao nhanh ra cửa, mất hút.
Tôi chưa kịp phản ứng gì. Bởi lòng trù trừ quá đỗi!! Thôi, đuổi theo làm gì những ngày xưa cũ. Chắc gì đã phải Đen. Cứ để con mèo đi đi. Đi mất hút vào vùng trời tuổi thơ tôi…
Vì rằng, lần trở lại này của tôi, sẽ là lần cuối.
Có những chuyến trở về, để mà đi mãi mãi…

BT: Vương Chi Lan

Trăng dẫm gai – Hoàng Hải Lâm

Ánh trăng mùa thu chảy tràn trên những con phố. Orange County (*) đêm nay tắm trăng, tắm trong chiếc chão lá vàng. Tất cả ngập chìm trong đôi mắt thu lim dim, yên ả. Ben và Ana ngồi cạnh nhau, tôi ngồi cách họ khoảng chừng ba bước chân trên một mô đất được phủ kín bỡi thứ cỏ lụa xanh rì và mát rượi. Continue reading

Kiếp tang bồng – Trần Bình

Ngập ngừng

Dặm dài luống những bâng khuâng
Mới hôm qua …
đã ngàn trùng nhớ thương!
Ta về phía núi mờ sương
Giọt buồn chia hết khoãng rừng chênh chao

Con tim hát giữa ngàn sao
Cho si mê
bến bờ đau
cạn ngày
Lời ân ái chưa trọn câu
Nụ môi ngơ ngác biệt nhau …ngập ngừng
Người dưng ơi
Ới người dưng….!


Tơ hồng

Một chiều em tiễn tôi đi
Cuối đường em nhắn câu gì… tôi quên

Cánh chim tránh gió lạc miền
Lời yêu ngại nói đọng mềm câu thơ

Tôi về qua chốn bơ vơ

Tìm thăm lối cũ bây giờ còn không?

Khúc ru ai cất nhói lòng

À ơi…

Trách cái tơ hồng dễ chi…!

Kiếp tang bồng 

Bên thềm lắng hạt mưa rơi
Tiếng mưa như xối vào nơi thẵm sầu

Người chừ lưu lạc phương nào
Để tôi lạnh giấc tâm bào gối chăn

Trời làm chi chuyện cách ngăn
Bến duyên rót chút lăn tăn giọt lòng.

Đêm sâu ướt gió đơn phòng
À ơi! Cái kiếp tang bồng khổ chưa!

BT: Vương Chi Lan

Những bài thơ cho em – Lê Lãng Du

Bài thơ cho Em số 1

Em nghiêng tóc lệch sông trăng
Buông lơi xõa bóng đêm rằm trao duyên
Ngại ai che ánh mắt huyền
Xuân thì hương ngát một miền thi ca

Em nghiêng tóc đổ vai ngà
Trăng hoang mộng mị sa đà bên em
Vườn thương ngự bóng trăng quen
Sương trên đầu lá nụ mềm vị yêu

Em nghiêng vóc ngọc Thúy Kiều
Lao xao gió gửi bao nhiêu tâm tình
Cài then em chỉ bóng hình
Tao nhân mặc khách hư vinh một thời

Em nghiêng bóng ngã buồn trôi
Hắt hiu gác tía một đời giai nhân
Thì thôi một kiếp phù vân
Hương tan ngọc nát si sân thói đời

Bài thơ cho Em số 2

Em về đông quạnh chiều trôi
Hiu hiu vạt nắng vàng trời bên sông
Gót mềm chạm bến thương mong
Sắc se nỗi nhớ bềnh bồng câu thơ

Em về chiều lặng ơ thờ
Lối mòn hoa cỏ ven bờ ngập hương
Mây chiều tim tím sầu vương
Hồn mơ nhân ảnh mến thương thủa nào

Em về hồn chợt xanh xao
Tựa vai nhớ một thủa nào bên nhau
Thương trao mật ngọt lời đầu
Duyên xưa ngậm kín thương đau ái tình

Em về như một đóa Quỳnh
Khai hoa thơm lựng hai mình ngất ngây
Mai hương theo gió xa bay
Hoa tàn tan tác khi ngày nắng lên

Bài thơ cho Em số 3

Em đi áo mỏng buông hờn
Dáng khoe sắc mộng tình vương mây ngàn
Chút thương gửi gió đông sang
Bờ mê say đắm nắng vàng nghiêng soi

Em đi chiều xuống trong tôi
Tương tư cánh lá buông rời cành thương
Miền yêu quạnh quẽ gió sương
Vắng ai hiu hắt con đường ngày xưa

Em đi trời bỗng chợt mưa
Buồn dâng xám cả trời vừa vào đông
Chợt như tê tái cõi lòng
Mênh mang một nẻo bềnh bồng cô đơn

Em đi để lại yêu thương
Luyến lưu nơi chốn thiên đường tình yêu
Hương mê quyện ánh nắng chiều
Hắt hiu chiếc bóng liêu xiêu nhạt nhòa

Bài thơ cho Em số 4

Em ngồi chải tóc soi gương
Hiên chiều nhạt nắng gió hờn chia xa
Buồn trôi tóc điểm sương ngà
Mênh mông nỗi nhớ mặn mà cho nhau

Em ngồi thương những ngày sau
Hoa rơi lạc cánh lá sầu rụng rơi
Người đi lang bạt cuối trời
Phong sương bụi gió một đời lãng du

Em ngồi nhìn bóng lá thu
Vàng phai lạc cánh gió ru đổi mùa
Góc đời còn dấu ngày xưa
Bóng ai thoang thoáng như vừa đâu đây

Em ngồi ôm vạt nắng gầy
Chắt chiu một thủa cầm tay nhau về
Đường lên chốn cũ vườn quê
Cỏ xanh hoa lá bốn bề quạnh hiu

Bài thơ cho Em số 5

Em bên trời ấy nắng vàng
Hoa thơm ngập lối mênh mang phố buồn
Quán cà phê từng giọt thương
Buông rơi đáy cốc vô thường trần ai

Em chờ mỗi buổi sớm mai
Quán xưa kỷ niệm u hoài nhớ nhung
Nhạc buồn từng phím tơ rung
Bao giờ hội ngộ tao phùng bên nhau

Em bên trời ấy còn không
Chiều tan lối nhỏ níu cong sợi buồn?
Chút thương vịn chặt vào hồn
Tương tư hình bóng yêu thương nhạt nhòa

Em chờ người ở ngàn xa
Núi sông cách trở sơn hà chia ly
Người ở lại thương người đi
Người ơi! Còn có nhớ gì nhau không?

Bài thơ cho Em số 6

Em nằm giữa cõi trần gian
Lõa thân phơi trắng dối gian của đời
Biếc xanh mắt lá răm ngời
Hồn nhiên buông tiếng cợt cười nhân duyên

Em nằm say tỉnh lạ quen
Trăm năm hờ hững ngọt mềm lời ru
Lụa là khoe vóc mưa thu
Sắc hương rã cánh hồn ư lạnh lùng

Em nằm buông phím đàn rung
Ngát hương tím tận lối cùng nỗi đau
Hồn mê đắm bởi thương sâu
Phù du mấy cánh qua cầu gió bay

Em nằm gối mộng vào mây
Đớn đau cùng nỗi đọa đày nhân gian
Thương ôm chặt bóng non ngàn
Mải mê một giấc mộng tan vào mùa

BT: Vương Chi Lan